Bộ Xây dựng cho biết, việc xây dựng Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để tháo gỡ vướng mắc phát sinh tại một số dự án BOT giao thông ký kết hợp đồng trước thời điểm Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư số 64/2020/QH14 (Luật PPP) ban hành nhằm cải thiện môi trường đầu tư, khơi thông nguồn lực, thực hiện thắng lợi chủ trương của Đảng, chính sách của nhà nước về thu hút nguồn lực xã hội theo phương thức PPP, hoàn thành các mục tiêu đột phá chiến lược về phát triển kết cấu hạ tầng.

Ảnh minh họa.
Theo đó, dự thảo Nghị quyết của Bộ Xây dựng đề xuất quy định cơ chế, chính sách đặc thù để tháo gỡ vướng mắc đối với một số dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông theo hình thức hợp đồng BOT ký kết trước thời điểm Luật số 64/2020/QH14 có hiệu lực thi hành bao gồm:
- Dự án đầu tư xây dựng công trình cầu Việt Trì - Ba Vì nối QL32 với QL32C theo hình thức BOT;
- Dự án đầu tư xây dựng công trình cầu Thái Hà vượt sông Hồng trên đường nối hai tỉnh Thái Bình, Hà Nam với đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình, giai đoạn I theo hình thức hợp đồng BOT;
- Dự án đầu tư xây dựng hầm đường bộ qua Đèo Cả (bao gồm hầm Đèo Cả, hầm Cổ Mã, hầm Cù Mông, hầm Hải Vân) theo hình thức hợp đồng BOT;
- Dự án đầu tư xây dựng tuyến cao tốc Bắc Giang - TP. Lạng Sơn đoạn Km45+100-Km108+500, kết hợp tăng cường mặt đường Quốc lộ 1 đoạn Km1+800 - Km106+500, tỉnh Bắc Giang và tỉnh Lạng Sơn theo hình thức Hợp đồng BOT.
- Dự án đầu tư xây dựng Quốc lộ 1 đoạn tránh TP. Thanh Hóa theo hình thức hợp đồng BOT;
- Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường Thái Nguyên - Chợ Mới (Bắc Kạn) và nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 3 đoạn Km75 - Km100 theo hình thức hợp đồng BOT;
- Dự án nâng cấp, mở rộng đường Hồ Chí Minh (QL14) đoạn Km1738+148 - Km1763+610, tỉnh Đắk Lắk theo hình thức hợp đồng BOT;
- Dự án đầu tư xây dựng công trình cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 91 đoạn Km14+000 đến Km50+889 theo hình thức Hợp đồng BOT;
- Dự án đầu tư xây dựng công trình cải tạo, nâng cấp luồng sông Sài Gòn đoạn từ cầu đường sắt Bình Lợi tới cảng Bến Súc theo hình thức hợp đồng BOT;
- Dự án cải tạo, nâng cấp đường 39B đoạn tuyến tránh thị trấn Thanh Nê, huyện Kiến Xương và đoạn từ đường vào Trung tâm Điện lực Thái Bình đến cầu Diêm Điền, huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình theo hình thức hợp đồng BOT;
- Hạng mục cầu An Hải đầu thư theo hình thức hợp đồng BOT (thuộc dự án đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch tuyến đường ven biển Độc Lập - long Thủy - Gành Đá Đĩa).
Về nguyên tắc thực hiện, dự thảo Nghị quyết nêu rõ, bảo đảm đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định tại Nghị quyết này và quy định pháp luật có liên quan, phù hợp với các điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế mà Việt Nam là thành viên, ký kết. Không sử dụng vốn nhà nước để tháo gỡ vướng mắc do vi phạm nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án trong việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng.
Bảo đảm nguyên tắc "lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ", hạn chế tối đa tác động đến các dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông theo hình thức hợp đồng BOT đang khai thác, đặc biệt không để xảy ra tình trạng trục lợi chính sách, thoái thác trách nhiệm.
Vốn nhà nước tham gia, hỗ trợ dự án trong giai đoạn khai thác
Cũng theo dự thảo Nghị quyết của Bộ Xây dựng, cho phép bố trí vốn nhà nước tham gia, hỗ trợ một số dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông theo hình thức hợp đồng BOT trong giai đoạn khai thác để bảo đảm hiệu quả tài chính đối với các dự án: 1- Dự án đầu tư xây dựng công trình cầu Việt Trì - Ba Vì nối QL32 với QL32C theo hình thức BOT (bổ sung 598 tỉ đồng vốn nhà nước); 2- Dự án đầu tư xây dựng công trình cầu Thái Hà vượt sông Hồng trên đường nối hai tỉnh Thái Bình, Hà Nam với đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình, giai đoạn I theo hình thức hợp đồng BOT (bổ sung 1.024 tỉ đồng vốn nhà nước); 3- Dự án đầu tư xây dựng hầm đường bộ qua Đèo Cả (bao gồm hầm Đèo Cả, hầm Cổ Mã, hầm Cù Mông, hầm Hải Vân) theo hình thức hợp đồng BOT (bổ sung 2.280 tỉ đồng vốn nhà nước); 4- Dự án đầu tư xây dựng tuyến cao tốc Bắc Giang - TP. Lạng Sơn đoạn Km45+100-Km108+500, kết hợp tăng cường mặt đường Quốc lộ 1 đoạn Km1+800 - Km106+500, tỉnh Bắc Giang và tỉnh Lạng Sơn theo hình thức Hợp đồng BOT (bổ sung 4.580 tỉ đồng vốn nhà nước).
Trách nhiệm chia sẻ của nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án và bên cho vay
Khi thực hiện cơ chế, chính sách về vốn nhà nước tham gia, hỗ trợ dự án trong giai đoạn khai thác, nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án và bên cho vay có trách nhiệm chia sẻ điều chỉnh hợp đồng tín dụng, phương án trả nợ phù hợp với doanh thu thực tế của dự án; điều chỉnh giảm tỉ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu, lãi suất vốn vay bảo đảm thời hạn vận hành, kinh doanh sau khi điều chỉnh không vượt quá thời hạn vận hành, kinh doanh theo hợp đồng dự án được ký kết giữa các bên.
Khi thực hiện chấm dứt hợp đồng trước thời hạn theo quy định tại các điểm a, b, đ khoản 2 Điều 52 Luật số 64/2020/QH14 (sửa đổi, bổ sung tại khoản 14 Điều 4 Luật số 57/2024/QH15) đối với các dự án 5 – 11 nêu trên, nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án và bên cho vay có trách nhiệm chia sẻ:
- Đối với vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư: không tính lợi nhuận vốn chủ sở hữu trong giá trị đề nghị thanh toán.
- Đối với vốn vay: áp dụng mức lãi suất 4%/năm từ thời điểm dự án đưa vào vận hành đến thời điểm cấp có thẩm quyền quyết định chấm dứt hợp đồng dự án.
Dự thảo Nghị quyết nêu rõ, cho phép bố trí khoảng khoảng 14.223 tỉ đồng từ nguồn tăng thu, tiết kiệm chi ngân sách Trung ương năm 2024 để tháo gỡ vướng mắc đối với 09/11 dự án. Địa phương chịu trách nhiệm bố trí khoảng 576 tỉ đồng ngân sách địa phương để tháo gỡ vướng mắc đối với 02/11 dự án thuộc thẩm quyền.
Tập trung giải quyết dứt điểm các dự án kéo dài, tồn đọng
Đây là yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tại cuộc họp với Ban Chỉ đạo về rà soát, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc liên quan đến các dự án để nghe báo cáo về tình hình rà soát, đánh giá, tìm giải pháp tiếp tục tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho các dự án đang tồn đọng được tổ chức ngày 30/3.
Cụ thể, phát biểu kết luận tại cuộc họp, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã yêu cầu tập trung giải quyết dứt điểm với 1.533 dự án đã có báo cáo, nếu có các dự án phát sinh thì tiếp tục giải quyết, tinh thần là rõ tới đâu làm tới đó, làm tới đâu chắc tới đó, làm việc nào dứt việc đó, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, mở rộng dần, không cầu toàn, không nóng vội; với những vấn đề có tính cá biệt thì phải đề xuất cơ chế đặc thù để xử lý. Về thời hạn, Thủ tướng chỉ đạo, các thủ tục để xử lý cho các dự án phải cố gắng hoàn thành trước 30/5.
Trong đó, với các dự án vướng mắc về mặt bằng, Thủ tướng yêu cầu các địa phương, nhất là cấp cơ sở, giải quyết dứt điểm các vướng mắc liên quan giải phóng mặt bằng; căn cứ luật pháp, điều kiện cụ thể, khả năng của địa phương để quyết định hỗ trợ phù hợp, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, xem xét có chính sách thấu tình đạt lý với các đối tượng đặc biệt, người khó khăn, yếu thế, đồng thời xử lý nghiêm các trường hợp cố tình vi phạm, chây ỳ, chống đối…
Với nhóm các dự án có vướng mắc về quy hoạch thì rà soát các quy hoạch, nhất là quy hoạch chuyên ngành làm căn cứ triển khai các dự án bảo đảm phù hợp, đồng bộ hệ thống quy hoạch chung.
Với các vấn đề khó khăn, vướng mắc đối với các dự án, đất đai trong kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án, thì đề xuất Quốc hội cho phép địa phương, bộ, ngành, cơ quan vận dụng chính sách đặc thù đã được Quốc hội thông qua tại các Nghị quyết 170, 171, áp dụng với các dự án có tính chất tương tự.
Với các dự án có sai phạm trong quá trình thực hiện nhưng đã được triển khai thực hiện cơ bản, khó thu hồi dự án thì đề xuất giải pháp tháo gỡ, cho thời hạn khắc phục khó khăn, vướng mắc và hậu quả (nếu có); tinh thần là hiệu quả, nhân văn, phù hợp, ưu tiên áp dụng các biện pháp về kinh tế, dân sự, hành chính trước, sau đó mới áp dụng các biện pháp khác; không che giấu, không bỏ sót, không để lọt sai phạm, không để thất thoát tài sản nhà nước nhưng bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân và doanh nghiệp.
Với các dự án khó khăn, vướng mắc nhưng chưa có quy định của pháp luật để điều chỉnh và cũng không áp dụng được cơ chế chính sách đặc thù đã được Quốc hội ban hành thì phải nghiên cứu, đề xuất Quốc hội tại kỳ họp sắp tới.
Thủ tướng chỉ đạo Bộ Tài chính xây dựng, trình Chính phủ ban hành nghị quyết xử lý những nhóm vấn đề thuộc thẩm quyền; đồng thời xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về các dự án có khó khăn, vướng mắc, tồn đọng, kéo dài, trên cơ sở dữ liệu để phân tích nguyên nhân, đưa ra giải pháp phù hợp, khả thi, hiệu quả; có hướng dẫn chung với biểu mẫu, đề cương để các bộ, ngành, địa phương thực hiện báo cáo.
Cùng với đó, Bộ Tài chính, Văn phòng Chính phủ khẩn trương trình Thủ tướng ban hành công điện thứ 3 chỉ đạo, định hướng, đôn đốc các cơ quan, địa phương tiếp tục rà soát, đánh giá, phân loại các dự án tồn đọng, vướng mắc để báo cáo và đề xuất nhiệm vụ, giải pháp, phương án, cơ chế, chính sách để xử lý, nếu không báo cáo đúng hạn thì phải chịu trách nhiệm khi các cơ quan chức năng vào cuộc.
Đồng thời, Thủ tướng cũng yêu cầu các Bộ, ngành, cơ quan, địa phương chủ động, tích cực tháo gỡ cho các dự án theo thẩm quyền, phát huy trách nhiệm cao nhất, phối hợp chặt chẽ, hiệu quả, nếu vượt thẩm quyền thì báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.